HỘI CHỨNG
BÉO PHÌ

CAO MỠ MÁU

XƠ VỮA
ĐỘNG MẠCH

Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa: “Xơ vữa động mạch là sự phối hợp các hiện tượng thay đổi cấu trúc nội mạc của các động mạch lớn và vừa, bao gồm sự tích tụ cục bộ các chất lipid, các phức bộ glucid, máu và các sản phẩm của máu, mô xơ và cặn lắng acid, các hiện tượng này kèm theo sự thay đổi ở lớp trung mạc”.

Nói chung xơ vữa động mạch là hiện tượng xơ hóa thành động mạch bao gồm các động mạch trung bình và động mạch lớn. Biểu hiện chủ yếu là sự lắng đọng mỡ và các màng tế bào tại lớp bao trong thành động mạch gọi là mãng vữa.

Bệnh Xơ vữa động mạch phát triển dần dần và thường không có bất kỳ triệu chứng nào cho đến khi động mạch bị thu hẹp hoặc bị tắc. Nó không thể cung cấp máu đầy đủ đến các bộ phận và các mô. Đôi khi một cục máu đông hình thành hoặc thậm chí vỡ ra và có thể gây đau tim hoặc đột quỵ.

Đây là căn bệnh rất khó phát hiện triệu chứng ngay từ ban đầu. Khi đã có những biểu hiện lâm sàng thì thực chất đã là những biến chứng. Bất cứ động mạch nào của cơ thể cũng có thể bị xơ vữa, biểu hiện của căn bệnh này không nhất quán, mà tùy thuộc vào việc động mạch nào bị xơ vữa, cụ thể như sau:

  1. Xơ vữa động mạch chủ ngực

    Thường không có triệu chứng cụ thể. Chỉ khi chụp X – quang mới thấy cung động mạch chủ to và đậm hơn bình thường, quai động mạch chủ giãn rộng, có khi bị calci hóa, hoặc phình to.

    Khi tổn thương xơ vữa lan đến van động mạch chủ, hay động mạch vành tim mới có biểu hiện lâm sàng rõ ràng hơn, người bệnh thấy khó thở, hay hồi hộp và đau thắt ở ngực.

  2. Xơ vữa động mạch vành ở tim

    Do bệnh gây thiếu máu cục bộ nên người bệnh có cơn đau khắp ngực, nhồi máu cơ tim, hoặc xơ động mạch vành tim, biểu hiện suy tim không hồi phục, loạn nhịp tim, rối loạn dẫn truyền.

  3. Xơ vữa động mạch não

    Bệnh nhân bị xơ vữa động mạch não có thể sẽ gặp triệu chứng thoáng qua, như liệt, lú lẫn, hay quên, mất ngôn ngữ. Trầm trọng hơn là nhũn não, xuất huyết não và các tổn thương khác ở não.

  4. Xơ vữa động mạch chi

    Chủ yếu gặp ở 1 hay cả 2 chi dưới. Biểu hiện rõ nhất là thiếu máu khi đứng lâu, đi lại nhiều hoặc gắng sức. Ở người già có thể dẫn đến hoại tử chi.

  5. Xơ vữa động mạch chủ bụng

    Không có biểu hiện cụ thể, nhưng khi sờ sẽ thấy động mạch to, cứng và đập mạnh. Nếu tình trạng xơ vữa diễn ra ở ngã ba của động mạch chủ bụng sẽ gây thiếu máu chi dưới và liệt dương.

  6. Xơ vữa các động mạch bụng

    Xơ vữa các động mạch bụng như động mạch tạng, động mạch mạc treo màng trên, động mạch mạc treo màng dưới. Biểu hiện không rõ ràng, nhưng khá nguy hiểm vì có thể gây hoại tử một đoạn ruột.

  7. Xơ vữa động mạch thận

    Làm huyết áp tăng vọt do hẹp động mạch.

  8. Xơ vữa động mạch tụy tạng

    Biểu hiện rõ nhất là bệnh đái tháo đường do các Langgerhans bị thiếu máu.

Một vài yếu tố nguy cơ gây tổn thương tới lớp bên trong của động mạch gây xơ vữa mạch máu:

  • Tỷ lệ Cholesterol và Triglycerides trong máu caoCác Axit béo này bám vào thành động mạch và kết hợp với các yếu tố gây viêm hình thành nên các mảng bám xơ vữa.
  • Hút thuốc và hút thuốc thụ độngCác hóa chất trong thuốc lá gây tổn thương thành động mạch và hình thành các mảng bám. Ngoài ra, các chất độc khi hút thuốc làm giảm Cholesterol HDL và tăng Cholesterol LDL, gây xơ vữa động mạch.
  • Huyết áp caoTổn thương thành động mạch gây ra các mảng bám xơ vữa.
  • Tiểu đường Việc dư thừa Glucose trong máu làm tổn thương thành động mạch.
  • Béo phì Tăng nguy cơ huyết áp cao, tiểu đường type2 và tăng tỷ lệ cholesterol trong máu. Tất cả những yếu tố này đều dẫn đến nguy cơ bị xơ vữa động mạch.

  1. Nhồi máu cơ timLà hiện tượng xảy ra khi huyết khối xuất hiện ở động mạch vành (động mạch dẫn máu nuôi tim), dẫn đến chết mô tim, loạn nhịp tim, thậm chí ngưng tim.Nhồi máu cơ tim thường xảy ra đột ngột, nhanh và rất nguy hiểm. Khoảng 1/4 – 1/3 bệnh nhân chết trước khi kịp đến bệnh viện. Trong số những người nhập viện, có 5% – 10% chết do các biến chứng như suy tim, choáng tim, rối loạn nhịp tim.Theo thống kê, cứ 6 người bị nhồi máu cơ tim thì có một người sẽ bị tái phát cơn nhồi máu cơ tim, đột quỵ, tử vong do tim mạch sau một năm.
  2. Đột quỵ Còn gọi là tai biến mạch máu não, là căn bệnh nguy hiểm đứng thứ ba sau tim mạch và ung thư.Ở Việt Nam, tuy chưa có con số thống kê chính xác, nhưng theo số liệu của các bệnh viện chuyên tim mạch như Bệnh viện Tim trung ương, TP HCM, Hà Nội, 30% số bệnh nhân nhập viện là do mắc tai biến mạch máu não. Ở khoa Hồi sức cấp cứu của các bệnh viện, bệnh nhân đột quỵ chiếm đa số.Đột quỵ dạng nhũn não xảy ra khi xuất hiện huyết khối ở động mạch dẫn máu lên não. Nếu nhẹ có thể bị tê liệt nửa người, trường hợp nặng, bệnh nhân có thể ngưng thở và tử vong.Bệnh khởi phát rất nhanh, rất đột ngột với ít dấu hiệu cảnh báo. Nhưng sẽ gây chết người nếu không xử lý nhanh. Hiện nay tai biến mạch máu não cũng xuất hiện nhiều ở những người trẻ tuổi.