HỘI CHỨNG
BÉO PHÌ

CAO MỠ MÁU

XƠ VỮA
ĐỘNG MẠCH

Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa: Béo phì là tình trạng tích lũy mỡ quá mức và không bình thường tại một vùng cơ thể hay toàn thân đến mức ảnh hưởng tới sức khỏe.

Béo phì có nguyên nhân từ dinh dưỡng. Thông thường một người trưởng thành khỏe mạnh, dinh dưỡng hợp lý, cân nặng của họ dao động trong giới hạn nhất định.

Tổ chức y tế thế giới thường dùng chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index – BMI) để nhận định tình trạng gầy béo. Để có chỉ số BMI, người ta dùng công thức:

BMI = W/(H)2, trong đó: W = Cân nặng (kg), H = Chiều cao (m).

Đối với người châu Âu và châu Mỹ, chỉ số BMI bình thường nên có ở giới hạn 20 – 25, trên 25 là thừa cân và trên 30 là béo phì.
Đối với người châu Á, BMI bình thường có giới hạn từ 18,5 – 23.

Bên cạnh theo dõi chỉ số BMI, cần theo dõi thêm tỷ số vòng bụng/vòng mông. Khi tỉ số này vượt quá 0,9 ở nam giới và 0,8 ở nữ giới thì nguy cơ tǎng huyết áp, bệnh tim mạch, tiểu đường đều sẽ tǎng rõ rệt.

Các triệu chứng béo phì bao gồm:

  1. Thị lực kém: Béo phì ảnh hưởng nhiều đến thị lực. Lượng đường cao trong cơ thể khiến tròng mắt bị giãn, làm giảm thị lực đáng kể. Ngoài ra, các dây thần kinh thị giác cũng bị ảnh hưởng rất nhiều.
  2. Thường xuyên đói bụng: Do béo phì ngăn chặn glucose đi vào các tế bào, cơ thể sẽ không thể chuyển hóa thức ăn thành năng lượng để hoạt động hàng ngày. Do đó, cảm giác đói bụng diễn ra thường xuyên hơn.
  3. Viêm da: Do lượng đường cao trong cơ thể, khả năng bảo vệ bạn khỏi bệnh viêm da giảm xuống. Theo kết quả thống kê, chị em bị béo phì sẽ rất khó để phục hồi khi bị viêm nhiễm ở vùng “cô bé” và vùng thận.
  4. Tê chân tay: Lượng đường cao sẽ phá hoại các dây thần kinh và các mạch máu đem thức ăn để nuôi sống các dây thần kinh đó. Vì vậy người béo phì dễ bị tê chân tay hơn người bình thường khác.
  5. Hay lẫn lộn và bối rối: Béo phì có ảnh hưởng tới sự nhanh nhẹn và độ tập trung. Vậy nên người béo phì thường hay lẫn lộn và khó tập trung hơn người bình thường.
  6. Rối loạn cương dương: Có tới 35% đến 75% tỷ lệ nam giới béo phì bị rối loạn cương dương.
  7. Mệt mỏi: Người béo phì có những biểu hiện như mệt mỏi vì glucose sẽ không đi vào trong các tế bào cơ thể và tạo ra năng lượng cần thiết.
  8. Luôn khát nước: Đây là biểu hiện thường thấy ở bệnh béo phì
    , người bệnh còn bị khô miệng thường xuyên.
  9. Dễ cáu kỉnh: Người béo phì rất dễ cáu cho dù chuyện có nhỏ nhặt đến đâu.

Nếu phát hiện thấy mình có nhiều triệu chứng trùng hợp nghi ngờ béo phì, bạn hãy đến gặp bác sỹ để được tư vấn sớm nhé.

Những nhóm nguy cơ gây bệnh béo phì . Đó là:

  • Yếu tố di truyền: Trong gia đình có sinh đôi, hoặc cha, mẹ, con bị bệnh béo phì thì có sự tham gia của gen di truyền. Cụ thể, trong gia đình nếu cả cha và mẹ bị béo phì thì có tới 80% nguy cơ con bị bệnh béo phì. Nếu cha hoặc mẹ bị béo phì thì có 50% con cái sinh ra bị béo phì.
  • Yếu tố xã hội: Nhóm người có thói quen ít vận động hoặc tính chất công việc ít vận động, ăn nhiều thường có nguy cơ bị béo phì cao hơn nhóm người có tính cách năng động, ăn uống điều độ hợp lý.
  • Rối loạn nội tiết tố và chuyển hóa: Những người bị rối loạn nội tiết và chuyển hóa như u vỏ thượng thận, mãn kinh, rối loạn chuyển hóa đường, rối loạn mỡ máu sẽ kích thích tạo mô mỡ. Các mô mỡ hình thành trong cơ thể khiến sự gia tăng nhu cầu về đường, kéo theo gia tăng nhu cầu Insuline, sự gia tăng hai chất này kích thích tạo mô mỡ và hình thành một vòng xoắn bệnh lý rất khó điều trị.
  • Yếu tố tâm lý: Đó là các vấn đề ăn uống quá mức, những người biếng ăn nhưng lại ăn nhiều về đêm đi kèm với mất ngủ. Từ đó dẫn đến rối loạn giữa lượng thức ăn đưa vào cơ thể và năng lượng tiêu hao trong quá trình hoạt động. Gây ra tích tụ mỡ và tăng trọng lượng cơ thể.
  • Yếu tố tăng trưởng của cơ thể: Tăng kích thước tế bào mỡ và tăng số lượng tế bào mỡ đều dẫn tới tăng khối lượng cơ thể và gây béo phì.
    Ở độ tuổi trưởng thành, béo phì hầu hết là do tăng kích thước tế bào mỡ (thể béo phì đại) Việc giảm cân ở những đối tượng này cũng dễ dàng hơn, chỉ cần tuân thủ chế độ ăn uống hợp lý, kết hợp luyện tập thân thể và sử dụng một số loại thuốc nếu cần.
    Ngược lại, việc giảm cân ở độ tuổi thiếu niên bị béo phì thật sự khó khăn, nhiều trường hợp gần như không chữa được.
  • Hoạt động thể lực: Thời đại kinh tế phát triển, đầy đủ tiện nghi cũng là yếu tố khiến con người lười hoạt động hơn,từ đó làm tăng nguy cơ bị thừa cân, béo phì.
  • Các thương tổn trên não bộ: Những trường hợp bị béo phì đến từ nguy cơ này rất hiếm gặp. Sự tổn thương vùng dưới đồi có thể gây ra bệnh béo phì.

Ngoài ra, khi nhiệt năng hấp thụ vào cơ thể lớn hơn nhiệt năng bị tiêu hao đi, khiến cho lượng mỡ tích lũy trong cơ thể ngày càng nhiều hơn, dẫn đến thừa cân, béo phì.
Cách mà chúng ta có thể can thiệp là làm thế nào để tiêu hao lượng nhiệt năng hấp thụ vào cơ thể, để 2 chỉ số này ở mức gần như tương đương, sự tích tụ mỡ không còn nữa, đó là cách đẩy lùi bệnh béo phì ra xa.

Bệnh béo phì gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, bao gồm:

    1. Tử vong:
      Tăng cân quá mức và béo phì tuy không trực tiếp gây tử vong nhưng các biến chứng của nó thì thật sự nguy hiểm: Tăng lipid máu, đái tháo đường.
      Ngoài ra, các diễn biến nặng trên người béo phì còn có:

      • Ngoại khoa: Nguy cơ tử vong khi gây mê, phẫu thuật.
      • Nội khoa: Nhiễm khuẩn nặng.
      • Sản khoa: Đẻ khó.
      • Ung thư hóa: Tăng tỷ lệ ung thư vú và nội mạc tử cung do chuyển Androgen ở mô mỡ thành Oestrogens tương đối nhanh.
      • Ung thư đại tràng, u nang buồng trứng.
    1. Biến chứng tim mạch, bệnh lý mạch máu não:
      Béo phì và béo bụng là yếu tố rất rõ rệt dẫn tới bệnh lý tim mạch và mạch máu não. Nguyên nhân chính do tăng huyết áp, tăng LDL – C, tăng Triglyxeride, tăng V.LDL-c , tăng Cholesterol, tăng Fibrinogen huyết, tăng PAI-1 (plasminogens Activator Inhibitor -1) và tăng Insulin.
      Qua nghiên cứu cho thấy ở người có BMI > 30 thì nguy cơ bệnh lý tim mạch từ 26 – 46% so với người có cân nặng lý tưởng .
      Theo Nurses health Study nghiên cứu, nguy cơ tim mạch ở người có BMI từ 25-28,9 cao gấp 2 lần so với nhóm có BMI< 21, ở nhóm BMI > 29 thì nguy cơ tim mạch cao gấp 3 lần so với nhóm có BMI < 21. Trong nghiên cứu Cohort cho thấy ở người có BMI > 22 thì khi cứ tăng BMI lên 1 thì nguy cơ tim mạch tăng 10%.

      • Tăng huyết áp: Cân nặng và huyết áp tiến triển song song. Nghiên cứu của Inter salt cho thấy khi tăng 10kg trọng lượng cơ thể thì huyết áp tâm thu tăng 3mmHg và huyết áp tâm trương tăng 2,3 mmHg. Dẫn đến tăng 12% nguy cơ mạch vành và tăng 24% nguy cơ đột quỵ.
      • Suy tim: Béo phì có nguy cơ dẫn đến suy tim xung huyết và mạch vành ( đau thắt ngực, đột tử, nhồi máu cơ tim)
        • Suy tim trái: do béo phì, tăng huyết áp và suy vành.
        • Suy tim phải: trong trường hợp có suy hô hấp.
        • Tai biến mạch máu não: chảy máu não, nhồi máu não.
      • Suy tĩnh mch: Thường do cơ học mà nguyên nhân là do béo phì kiểu nữ gây viêm tĩnh mạch, rối loạn dinh dưỡng chi dưới (loét các chỗ tĩnh mạch giãn).
    1. Biến chứng chuyển hoá
      • Chuyn hoá Gluxid: tình trạng tăng insulin, kháng insulin và cuối cùng là đái tháo đường loại 2, vì vậy béo phì là yếu tố nguy cơ cao của đái tháo đường.
      • Chuyn hoá Lipid: Thường tăng mỡ máu loại 4 (tăng Trigluxerid, tăng V.LDL-c ) và thường đáp ứng tốt với điều trị. Thoái hoá mỡ ở gan do rối loạn chuyển hoá mỡ.
      • Chuyn hoá axit uric: Axit uric máu thường tăng do tăng Triglyxeride trong quá trình điều trị béo phì. Vì vậy phải đề phòng cơn tăng a.uric đột ngột do thoái giáng Protid có thể gây cơn gút cấp tính.
    1. Biến chứng cơ học
      • Hô hp:
        • Hội chứng hạn chế (do lồng ngực di động kém) gây giảm thông khí phế nang tối đa làm giảm oxy mô và cơ mãn tính.
        • Hội chứng khó thở khi ngủ (H.C Pick Wick) gây ngủ gà ban ngày, nhức đầu về buổi sáng, tăng hồng cầu, tăng Co2, thường quy nồng độ oxy máu về đêm. Hội chứng này gặp 50% trường hợp béo phì nặng.
      • Xương khp: Do các khớp xương chịu áp lực cao.
        • Thoái hoá khớp háng, khớp gối.
        • Hoại tử do thiếu máu cục bộ đầu xương đùi.
        • Đau lưng, đau thắt lưng, thoát vị đĩa đệm, trượt đốt sống.
        • Viêm thần kinh toạ.
    1. Biến chứng nội tiết
      • Đái tháo đường loại 2.
      • Rối loạn chức năng sinh dục.
      • Rối loạn kinh nguyệt, rậm lông, giảm khả năng sinh sản.
  1. Biến chứng khác:
    • Nhiễm trùng các nếp gấp da nhất là nhiễm nấm.
    • Ung thư: Đặc biệt là ung thư đại tràng đoạn cuối, ung thư vú gặp cao ở người tuổi mãn kinh.
    • Tăng nguy cơ thai sản ở người béo phì có thai: Tăng huyết áp, đái tháo đường thai nghén, nhiễm độc thai nghén, thai chết lưu, sảy thai, dị dạng thai.
    • Sỏi mật: Người béo phì có nguy cơ mắc sỏi mật cao, gan nhiễm mỡ.
    • Thận: tắc tĩnh mạch thận, thận hư, suy thận.